Diệu Pháp Âm
Sách nói
Kinh Hoa Nghiêm Tập 02
Sách nói - tác phẩm Kinh Hoa Nghiêm Tập 02
- 1Phẩm Vô Tận Tạng27:05
- 2Phẩm Thăng Đâu Suất Thiên Cung35:41
- 3Phẩm Đâu Suất Kệ Tán19:33
- 4Phẩm Thập Hồi Hướng 132:09
- 5Phẩm Thập Hồi Hướng 231:02
- 6Phẩm Thập Hồi Hướng 330:14
- 7Phẩm Thập Hồi Hướng 428:14
- 8Phẩm Thập Hồi Hướng 529:36
- 9Phẩm Thập Hồi Hướng 623:00
- 10Phẩm Thập Hồi Hướng 733:42
- 11Phẩm Thập Hồi Hướng 824:57
- 12Phẩm Thập Hồi Hướng 925:10
- 13Phẩm Thập Hồi Hướng 1029:40
- 14Phẩm Thập Hồi Hướng 1130:57
- 15Phẩm Thập Hồi Hướng 1223:32
- 16Phẩm Thập Hồi Hướng 1323:36
- 17Phẩm Thập Hồi Hướng 1434:26
- 18Phẩm Thập Địa 133:36
- 19Phẩm Thập Địa 225:56
- 20Phẩm Thập Địa 328:18
- 21Phẩm Thập Địa 435:06
- 22Phẩm Thập Địa 539:35
- 23Phẩm Thập Địa 629:30
- 24Phẩm Thập Địa 728:16
- 25Phẩm Thập Địa 832:09
Thông tin tác phẩm
Khi thành đạo vị Vô thượng Chánh giác, đức Thích Ca Mâu Ni với pháp thân Tỳ Lô Giá Na cùng chư đại Bồ tát chứng đạo giải thoát tuyên thuyết kinh Hoa Nghiêm này tại Bồ Đề đạo tràng. Hàng chúng sanh căn tánh thấp kém, nghe lời giảng của đức Phật như câm, như điếc, không ai hiểu được. Vì thế, đức Thế Tôn nói kinh A Hàm (Ayamas) và các giáo lý khác cho chúng sanh dễ nghe, dễ hiểu hơn.
Sau khi đức Phật nhập diệt khoảng hơn 600 năm do ngài Long Thọ bồ tát chỉnh đốn giáo nghĩa tư tưởng Đại thừa nên kinh Hoa Nghiêm này mới được lưu truyền, được viết bằng Phạn văn. Toàn bộ kinh chữ Phạn có 100.000 bài kệ chia làm 48 phẩm.
Đến đời nhà Đường, đại sư Thật Xoa Nan Đà từ nước Vu Điền mang bản kinh đến Trung Quốc dịch sang Hán văn, nhưng chỉ dịch được 39 phẩm. Từ phẩm “Thế Chủ Diệu Nghiêm” đến phẩm “Nhập Pháp Giới”, cộng có 36.000 bài kệ bằng Phạn văn, chưa được dịch ra Hán văn. Kế đó, pháp sư Bát Nhã, người Kế Tân dịch thêm phẩm “Phổ Hiền Hạnh Nguyện” thành phẩm thứ 40 của bộ kinh Hoa Nghiêm này (Kinh Hoa Nghiêm, Hòa thượng Trí Tịnh dịch, THPGTP.HCM ấn hành).
(Trích lời nói đầu)
Mục lục:
[*]Phẩm Vô Tận Tạng
[*]Phẩm Thăng Đâu Suất Thiên Cung
[*]Phẩm Đâu Suất Kệ Tán
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 1
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 2
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 3
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 4
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 5
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 6
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 7
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 8
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 9
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 10
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 11
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 12
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 13
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 14
[*]Phẩm Thập Địa 1
[*]Phẩm Thập Địa 2
[*]Phẩm Thập Địa 3
[*]Phẩm Thập Địa 4
[*]Phẩm Thập Địa 5
[*]Phẩm Thập Địa 6
[*]Phẩm Thập Địa 7
[*]Phẩm Thập Địa 8
Sau khi đức Phật nhập diệt khoảng hơn 600 năm do ngài Long Thọ bồ tát chỉnh đốn giáo nghĩa tư tưởng Đại thừa nên kinh Hoa Nghiêm này mới được lưu truyền, được viết bằng Phạn văn. Toàn bộ kinh chữ Phạn có 100.000 bài kệ chia làm 48 phẩm.
Đến đời nhà Đường, đại sư Thật Xoa Nan Đà từ nước Vu Điền mang bản kinh đến Trung Quốc dịch sang Hán văn, nhưng chỉ dịch được 39 phẩm. Từ phẩm “Thế Chủ Diệu Nghiêm” đến phẩm “Nhập Pháp Giới”, cộng có 36.000 bài kệ bằng Phạn văn, chưa được dịch ra Hán văn. Kế đó, pháp sư Bát Nhã, người Kế Tân dịch thêm phẩm “Phổ Hiền Hạnh Nguyện” thành phẩm thứ 40 của bộ kinh Hoa Nghiêm này (Kinh Hoa Nghiêm, Hòa thượng Trí Tịnh dịch, THPGTP.HCM ấn hành).
(Trích lời nói đầu)
Mục lục:
[*]Phẩm Vô Tận Tạng
[*]Phẩm Thăng Đâu Suất Thiên Cung
[*]Phẩm Đâu Suất Kệ Tán
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 1
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 2
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 3
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 4
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 5
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 6
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 7
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 8
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 9
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 10
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 11
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 12
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 13
[*]Phẩm Thập Hồi Hướng 14
[*]Phẩm Thập Địa 1
[*]Phẩm Thập Địa 2
[*]Phẩm Thập Địa 3
[*]Phẩm Thập Địa 4
[*]Phẩm Thập Địa 5
[*]Phẩm Thập Địa 6
[*]Phẩm Thập Địa 7
[*]Phẩm Thập Địa 8